Home / Dịch Lý / Lý Dịch – Dịch Lý Hóa Hay Chuỗi Lý Hóa Thành Đệ Nhiên Sinh (Phần 1)

Lý Dịch – Dịch Lý Hóa Hay Chuỗi Lý Hóa Thành Đệ Nhiên Sinh (Phần 1)

  • Hỏi: Lý Dịch Dịch Lý Hóa là sao? Là gì? Là thế nào?

Đáp: Lý Dịch là cái lý lẽ biến hóa tiên quyết, tiên khởi của mọi cái tiên khởi. Có biến hóa Tiên khởi, nhiên hậu mới có hóa thành ra đủ mọi thứ linh thiêng hay kém linh thiêng.

 

Người đời vì không biết tất cả chỉ là Lý Dịch hóa do uy lực tuyệt đối tằng tổ Lý Dịch nên cứ lầm tưởng, cứ hiểu sai lạc rằng: con người làm được tất cả.

 

Con người có làm được cái gì đó thật, đồng ý lắm, nhưng phải trong

 

  • Hỏi: Dịch Lý Hóa hóa thành ra những gì? Nào? Ra sao?

Đáp: như trên đã nói, tất cả chỉ là Dịch Lý Hóa, cho nên, Dịch Lý Hóa là hóa thành ra: tất cả mọi thứ Phép cái đã (Biến Hóa Luật).

 

Mọi thứ Phép đề được và bị đóng khung trong Vô Hữu – Hữu Vô, Siêu Hiển – Hiển Siêu. Phép gì? Phép gì lại chẳng bị đóng khung trong khuôn khổ của nó, Phép gì mà chẳng có phạm vi của nó, nói rõ hơn, Phép gì cũng có Độ Cực, cũng có uy lực giới hạn của nó, cũng có linh nghiệm, ứng nghiệm, hiệu nghiệm giới hạn của nó cả.

 

Học viên cần nhớ: uy lực vô song, uy lực mãi mãi là biến hóa (Lý Dịch).

 

Phép nào? Phép ra sao? chỉ là Phép Cực Siêu Hiển – Cực Hiển Siêu (nào, ra sao là vậy đó).

 

Mọi thứ Phép, vô số Phép ư? Thì học hỏi cho đến bao giờ mới xong?

Chung qui thì chỉ có một Phép là: Phép biến hóa – hóa thành – hóa thành – biến hóa, mãi mãi Cực mới, quả thật xứng danh: Phép lạ! của mọi Phép lạ, bởi tại Đạo Cực đó vậy. Đã gọi là Phép lạ, giờ đây nhân loại lại khám phá ra được Phép lạ của Phép lạ ư? Có chuyện đó sao? Có thật sự vậy sao? Kỳ lạ thật, mà chuyện kỳ lạ thật này lại có thật! Lạ thật! Thật sự lạ! Đó là lý do khai mở kỷ nguyên mới Tiên Hậu Thiên Trí Tri, Ý hay Kỷ Nguyên Liên Hành Tinh.

 

  • Hỏi: Công cuộc tiến hóa chung của nhân loại?

Đáp: Công là mọi động tĩnh, Công của loài người là mọi động tĩnh của loài người (Trí Tri, Ý Người). Tất cả chỉ là sự lao công, lao cực của Lý Trí Tánh (Định Ý Nghĩa của Việt Nam Dịch Lý Hội).

 

Loài người có mọi động tĩnh hay những động tĩnh qui về. Vậy, Cuộc là những động tĩnh qui về Trí Tri, Ý. Cuộc là người người nhập cuộc cho biến hóa cuộc, cho giai đoạn diễn biến trong Biến Hóa Luật, tức như số phận người của Thời, Lúc, Ngươn, Hội, Vận Thế nhân loại cứ phải đi trong Đạo Cực giai đoạn Tiên Hậu Thiên Trí Tri, Ý.

 

Công cuộc là: người người Trí Tri, Ý nối tiếp Trí Tri, Ý, nghệ nghiệp nối tiếp nghệ nghiệp vẫn đi trong Luật Cấu Tạo Hóa Thành Liên Lỉ để bị và được để lại và rồi người người cứ bị và được hấp thụ, hưởng thụ… Vậy, mọi động tĩnh chỉ là nối nghiệp Cấu Tạo Hóa Thành rồi lại Cấu Tạo Hóa Thành… sống động là vậy đó.

 

Cứ Công Cuộc Cấu Tạo Hóa Thành trước đó, cứ bị và được để lại cho hiện tại hưởng thụ rồi canh tân, đào thải, vùi dập, vun bồi, liền trở thành công cuộc mới sẵn sàng bị và được để lại gia sản, sản nghiệp của công cuộc hiện tại cho mai hậu, cho mai sau, tự nhiên là cho bá tánh hậu lai (là nhân loại Âm Dương Trí Tri, Ý, tức là hưởng thụ động tĩnh Cấu Tạo Hóa Thành vùi dập, bồi đắp,… hóa thành ra chuỗi Lý Cấu Tạo Hóa Thành công cuộc tiến hóa chung của nhân loại trong biến hóa cuộc là vậy đó.

 

Tiến hóa là: Âm Dương Tình Ý người đối với lẽ biến hóa – hóa thành. Tiến hóa là: tiến hóa mà có thoái hóa sao đó, cái gì đó, cũng chỉ tiến thoái hóa trong phạm vi Trí Tri, Ý căn cơ (12 phạm vi Trí Tri, Ý … cho đến … Trí Tri, Ý Hình).

 

Nếu ta đem Trí Tri, Ý đã và đang vần vũ trong nhân thế mà đem so sánh với 12 phạm vi Trí Tri, Ý căn cơ của Việt Nam Dịch Lý Hội đề ra thì sự tiến thoái hóa của Trí Tri, Ý đa số nhân loại hiện đang trải qua từ Hình Ý đến Khí Ý, tệ hơn nữa, họ cũng không thể và cũng chẳng làm sao sáng tỏ cho được về công cuộc, công nghiệp của chính mình đang hưởng thụ: Trí Tri, Ý Hình đến Trí Tri, Ý Khí đó, và bởi cớ đó, tự nhiên là nhân loại không còn hiểu biết rằng mình phải vun bồi thêm hoặc đào thải bớt cái gì đây.

Nhưng, họ cũng bị và được ăn ăn, nói nói, làm làm theo trong truông tuần tự, trật tự mầu nhiệm của Trời Đất, theo uy lịnh của Đạo Cực giai đoạn, nhưng họ không biết đó thôi. Hóa ra, họ thành công họ cũng chẳng biết tại sao; họ thất bại, họ cũng chẳng biết tại vì sao; họ nói mà chẳng biết mình nói gì; họ nghe mà chẳng biết mình đang nghe gì; họ hỏi mà chẳng biết mình đang hỏi gì; họ làm mà chẳng rõ mình đang làm gì, trong phạm vi Âm Dương Tình Ý nào. Nói ra điều này thì loài người không tin rằng mình tệ dữ vậy, mà thật là tệ lắm đó vậy, không nói ra được, bởi có thật như vậy cho nên ta mới có dịp thấy, có dịp chứng kiến thiên hạ bực mình quá, biết gì đâu mà vun với bồi, vun gì, bồi gì; biết gì đâu mà đào với thải, đào gì, thải gì đây.

Nhưng, họ vẫn cứ vẫn phải đi trong Luật Cấu Tạo Hóa Thành Liên Lỉ tuần tự, trật tự thành thử ra họ cứ phải bôi tro trét trấu, bồi đắp cho ngày càng mờ mịt vấn đề Lý Học thêm lên… thêm nhiều lên (thời trời Lý Học uyên thâm, lu mờ trưởng lên). Thỉnh thoảng Trí Tri, Ý ở tự thân một con người nào đó ý vụt lóe sáng đến Đức Tính Tình Ý Vũ Trụ, chuyện ấy có thật, nên con người ấy, ở thời ấy, lúc ấy có thốt nên lời như thần khẩu thật, nhưng chỉ là việc thoảng qua, thoáng qua như giấc chiêm bao, như hoa sen hoa huệ, hoa phù du, hoa hướng dương, sớm nở tối tàn, càng làm cho người hậu sinh hiếu học tìm hiểu về lời thần khẩu, lời Kinh Thánh dạy thêm khổ nhọc hơn, cơ cực hơn, để trở nên điên khùng hơn, chẳng thú vị và chẳng lợi ích nào cả.

 

Bởi lẽ ấy, một khi mà nhân loại càng được và bị hưởng thụ sự mờ lý, tức là một khi mà nhân loại được và bị dạy dỗ mờ lý, dạy dỗ ngu học rồi, thì lẽ tất nhiên phải xảy ra cảnh trạng học ít thì ngu ít, học nhiều ư? Ngu nhiều (trời trời). Nhân loại càng mờ lý thì nhân loại càng bôi tro trét trấu lên trên Lý Học. Điều đó càng làm cho nhân loại hiếu học càng bất mãn tột độ với công cuộc tiến hóa chung của nhân loại. Than ôi! Eo ơi! Tiến hóa hay thoái hóa chỉ vì thời ấy nhân loại chưa tới thời trời, nên chưa thể có dịp tiến về sở học Vạn vật qui Nhất Lý, nhân loại buộc lòng tiến theo ngõ rẽ chia phân cách, theo Âm Dương đôi ngã, Âm Dương Dị Biệt đó vậy.

 

  • Vậy, con người (cũng như muôn loài) có ưa và không ưa (ghét) cái sản nghiệp chuỗi Lý Hóa Thành ấy ư? con người tính sao đây với lẽ ấy?

Đáp: Chuỗi Lý Cấu Tạo Hóa Thành (Dịch Lý hóa) vốn dĩ là Luật của mãi mãi.

 

Vì là Luật mãi mãi nên không còn sửa đổi được nữa, cho nên luôn luôn phải vẫn bị và được biến hóa – hóa thành – biến hóa, chỉ có con người nào khám phá ra được điều này hoặc hiểu rất rõ điêu này mới có quyền nói đến vấn đề thế thiên hành đạo, khai vật thành vụ, còn những con người khác thì chỉ nói chơi, nói trong mơ ước hoặc nói bịp mị mà thôi, bởi vì chính họ không tin có Luật Trời.

 

Vì là Luật mãi mãi cho nên:

 

  • Nếu loài người không biết cho rành về Luật đó thì kể như loài người mặc kệ, mặc xác Luật mãi mãi đó (mặc xác Luật Biến Hóa, Biến Hóa Luật). Còn nói về Luật Biến Hóa, Biến Hóa Luật là mãi mãi thì dĩ nhiên Luật mãi mãi đó, NÓ cũng mặc kệ, mặc xác Âm Dương Tình Ý riêng của con người và muôn loài.

 

  • Chỉ có Thánh Trí xứng danh tức Thánh Trí Đông Phương mới được và bị Thiên Địa Quỷ Thần tín nhiệm và giao phó trọng trách dưỡng nuôi người (vì họ là con người bất đắc dĩ Thuận Thiên Hành Đạo). Họ là con người bám sát theo ông Tạo Hóa, dĩ nhiên ông Tạo Hóa bám sát lại (thường xuyên vấn đáp với nhau chơi).

 

  • Vì là Luật với Siêu Nhiên Tánh biết Cực nên nó chỉ biết Cực hoài, Cực mãi không thôi, bất chấp, mặc xác và không đếm xỉa đến thứ giống gì, gặp thứ giống gì linh thiêng hay kém linh thiêng thì ‘tao’ cứ biến hóa Cực, ‘tao’ chỉ biết duy nhất Cực, tao cứ Cực hoài, ai giỏi cản đản thử coi, ai có ngon nhào vô phá đám thử coi có được không nào.
  • Thế là thách đố khắp hoàn cầu, thách đố trong muôn đời, thách đố trong mọi nơi và thách đố mãi mãi, thách đố rằng: con nào, thằng nào dám thò đầu ra bảo là không có tao tức không có biến hóa Cực! (Đạo Cực Vô Cực Hữu). Đức Tính biến hóa Cực Vô Cực Hữu là Đức TánhH.T.K.CỰC.
  • Nó tự làm thành lưới trời đất, thưa mà lồng lộng, thưa mà chẳng lọt, chẳng có một thứ giống gì, chẳng có một thứ giống nào, chẳng có giống thứ tối linh thiêng nào thoát lọt được. Vậy, hễ ai tự nghĩ rằng: có luật Trời Đất chi phối khắp nơi thì trên đường động tĩnh còn kha khá, nếu quyết định không có luật Trời Đất, quyết định Thượng Đế đã chết thì ô hô! Ai tai! Đầy hối tiếc trong chuỗi dài của nghiệp động tĩnh của con người mình.

 

Bởi lẽ ấy, Đạo Cực cứ việc cười trừ trước mọi nhân mưu, quỷ mưu của loài người và của muôn loài đều bị và được nhập cuộc, tức công cuộc biến hóa Cực mãi mãi không thôi, không bao giờ đình nghỉ được nữa.

 

  • Hỏi: Đạo Cực cứ việc cười trừ trước nhân mưu, quỷ mưu nghĩa là sao? Là gì? Là thế nào? Còn như Kinh Thánh Hiền dạy dỗ: ở hiền gặp hiền, ở lành gặp lành, ở dữ gặp dữ, ở ác gặp ác thì sao? Có trái ý nghĩa, nghĩa lý của Đạo Cực cười ruồi không?

 

Đáp: Thiện Ác chỉ là Âm Dương Tình Ý riêng của loài người đối với Đức Tính của đơn vị một bản năng Âm Dương Trí Tri, Ý sống động sinh hóa – hóa thành sao đó, rồi cho thế đó là Thiện, thế kia là Ác…

 

Rằng: trong phạm vi Âm Dương Tình Ý người mà nói thì:

 

Anh làm thiện theo quan niệm sai lầm của riêng anh. Mặc kệ anh, anh cứ bị cơ cực mà anh cho là cơ cực! vì thời cơ cực của anh chưa hết độ cực trên một hướng tiến nào đó của riêng anh (chưa cơ cực). Tức là lúc anh chưa đủ yếu tố để tiến bước qua ngõ khác. Anh chưa làm tròn Đạo Cực cuối cùng.

 

Anh làm ác theo quan niệm sai lầm của riêng anh. Mặc kệ anh, anh cứ đang được hưởng sung sướng mà anh cho là sung sướng! Cũng vì chưa hết Cực độ cùng Hung Cực Ác trên một hướng tiến nào đó của riêng anh (chưa cùng Cực sướng). Tức như anh chưa đủ yếu tố để tiến bước qua ngõ khác.

 

Nói tổng quát thì:          Thiện Ác chỉ là Âm Dương Tình Ý nông cạn.

                                         Sướng Khổ chỉ là Âm Dương Tình Ý nông cạn.

 

Còn Đạo Cực thì bất chấp Âm Dương Tình Ý cao sâu hay nông cạn cứ Cực hoài, Cực mãi không thôi. Đồng Dị Dị Đồng CựcCực giữa đường và Cực cuối đường hay Cực của Cực. Cực giữa đường đi từ Âm Dương đến Âm Dương Bộ Mặt mới, còn Cực của Cực đi từ Âm Dương đến Dương Âm.

 

Cho nên, tỉ như anh than theo Âm Dương Tình Ý của riêng anh như sau:

 

Tôi giết dân nhiều quá rồi (quá nhiều theo Tình Ý của riêng anh), anh cứ vẫn hễ được gọi là Vua, còn thua thì gọi là giặc. Anh có Tình Ý riêng của anh là anh muốn ăn năn hối hận, không muốn hưởng thụ nhiều thêm nữa ư? Mặc kệ anh, người ta vẫn cứ đút lót anh, anh đã lỡ trót tham nhũng thì cứ thế mà Đạo tham nhũng trong người anh phải ngày càng lớn mạnh lên, để chi? để anh hết còn chối cãi được sự hưởng thụ của anh trước quốc dân đồng bào nữa.

Nghĩa là anh vẫn cứ bị và được Đạo Cực chưa tới Cực của Độ Cực hưởng, cho nên anh cứ còn được hưởng cái đã, bất chấp anh có ăn năn, anh cứ còn được hưởng vui sướng một cách bắt buộc trong khi lòng anh hết muốn hưởng. Tức là anh không vui sướng gì hết, tức là anh đang nhai thịt bò mà anh có cảm tưởng là anh đang nhai nùi giẻ rách. Chẳng qua chỉ vì chưa tới Độ hóa thành hết hưởng thụ thì làm sao anh được và bị hết hưởng thụ?

 

Trong sự thật thì vinh quang là nhục nhã, danh gọi Vinh Nhục cùng lúc chung cùng. Anh đâu có hiểu rằng anh đang hưởng thụ sung sướng càng nhiều thì cùng lúc ấy anh cũng đang hưởng thụ thật nhiều những nhục nhằn cay đắng tương xứng với những hưởng thụ sung sướng (Đại Đồng Đại Dị).

Anh hưởng thụ vinh quang, đồng thời anh hưởng thụ luôn cả bóng dáng tối tăm của cuộc đời đau khổ. Cái gì cũng được hưởng, cái chi cũng bị hưởng, đó là ý nghĩa thâm trầm sâu sắc và kín đáo của câu được và bị để lại… Tại sao kỳ vậy? Tại sao làm Thiện mà không được hưởng điều mình mong muốn như Kinh Đạo đã dạy: ở hiền gặp lành! (làm bộ, giả bộ, giả nhân, giả nghĩa cũng như gặp lành luôn! Thật thà theo kiểu ngu si cũng gặp lành luôn). Vấn đề này được Dịch Lý Việt Nam giải thích và giải quyết cặn kẽ như sau:

 

  • Những va chạm động tĩnh liên hệ với con người (danh chuyên môn gọi là sự lý động tĩnh liên hệ) còn như khi con người được và bị đón nhận, nghĩ đến ít nhiều, nặng nhẹ sao đó, rồi sau đó con người mới gọi là hưởng thụ hoặc không được hưởng thụ, ưa thích hoặc chán ghét sao đó, rồi nói là Thiện, là Ác, hoặc ưa hoặc ghét theo Âm Dương Tình Ý riêng của mỗi người, thì danh chuyên môn gọi đó là người lý sự về động tĩnh liên hệ.

 

Nói rõ hơn: chỉ là phạm vi tự tư liên hệ trong Âm Dương Tình Ý người đối với sự, vật, việc gì đó trong Vũ Trụ biến hóa.

Tác Giả Tâm Thanh Dịch Học Sĩ

Cùng Chuyên Mục

Bài 8: Phương Pháp Và Điều Kiện Để Biện Minh Chứng Nghiệm Chân Lý

3. Phải hiểu thật rõ, thật đúng cái lý lẽ của Lý ý tượng Dịch. …